Với cam kết thúc đẩy tinh thần kinh doanh khởi nghiệp và sự sáng tạo, vừa qua, Chính phủ Úc đã giao trọng trách cho Lãnh tụ Đảng Tự do – ông Steven Marshall thử nghiệm một chương trình Visa mới theo diện Doanh nhân tại Nam Úc.
Theo chương trình này, loại visa mới cho phép Chính phủ các tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc hợp tác với các doanh nghiệp còn trong giai đoạn sơ khởi nhằm thu hút các doanh nhân nước ngoài. Giờ đây, doanh nhân ngoại quốc có cơ hội rộng mở hơn cho việc thương mại hóa ý tưởng sáng tạo của mình vào thực tế kinh doanh tại Úc. Chương trình được thí điểm tại Nam Úc trước khi ban hành rộng rãi trên cả nước vào năm 2019.
Cụ thể, các doanh nhân và nhà đầu tư nước ngoài với ý tưởng đổi mới cùng một kế hoạch kinh doanh được hỗ trợ có thể nộp đơn xin visa tạm trú để thành lập doanh nghiệp tại Úc.
Visa Úc diện Doanh nhân hiện tại yêu cầu đương đơn phải có nguồn vốn bắt buộc là $200,000. Tuy nhiên, điều kiện này bị xóa bỏ đối với loại visa mới. Thay vào đó, đơn xin visa sẽ được kiểm duyệt bởi Chính phủ tiểu bang hoặc liên bang. Các cơ quan này cũng có thể hợp tác với nhà đầu tư theo mô hình Incubator & Accelerator (Vườn ươm khởi nghiệp và Tăng tốc khởi nghiệp). Mô hình này trợ giúp các doanh nghiệp những nguồn lực cần thiết để khởi nghiệp thành công; chẳng hạn tài chính, công nghệ, đào tạo và huấn luyện hay hỗ trợ các cơ hội giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận với thị trường và kêu gọi đầu tư.
Một khi kế hoạch khởi nghiệp phát triển thành công, doanh nhân sẽ có đủ điều kiện trở thành thường trú nhân của Úc. Hiển nhiên, con đường trở thành công dân Úc cũng trở nên dễ dàng hơn. Hiện tại, chính phủ Nam Úc đang triển khai với Bộ Nội vụ về các chi tiết trong chương trình visa mới này. Nếu áp dụng thành công, chương trình sẽ giúp việc thành lập doanh nghiệp mới dễ dàng và ít tốn kém hơn.
Bộ trưởng Nội vụ, ông Peter Dutton cho hay: “Chính phủ đang tập trung vào việc cải thiện cơ hội nghề nghiệp và chất lượng cuộc sống cho người dân Úc, và chúng tôi đang làm điều này bằng cách thúc đẩy tăng trưởng vào Úc”. Thực vậy, việc khuyến khích các nhà đầu tư và doanh nhân nước ngoài mở rộng hoạt động tại Úc sẽ góp phần phát triển kinh tế vùng và tạo việc làm cho người bản địa.
Kỳ thi HSC (Higher School Certificate) là kỳ thi tốt nghiệp trung học ở Úc. Đây là kỳ thi quan trọng vì nó quyết định rất nhiều về tương lai sự nghiệp của một học sinh. Bắt đầu năm học lớp 12, học sinh Úc được quyền chọn những môn học mà mình yêu thích để dự thi HSC. Có khoảng 115 môn học để học sinh lựa chọn trong đó có cả môn ngoại ngữ tiếng Việt. Mỗi học sinh phải ghi danh thi tối thiểu là 12 tín chỉ để có bằng HSC. Ví dụ nếu như bạn không giỏi về toán, nhưng giỏi về sinh học, thì bạn nên chọn sinh 3 units + hóa 2 units + lí 2 units + toán 2 units + Anh văn 2 units + môn khác 1 unit = 12 units. Thường những du học sinh Việt Nam học cấp 3 tại Úc sẽ lựa chọn những môn thiên về khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Vi tính… để dễ đạt được điểm cao trong kỳ thi HSC. Bởi học sinh từ Việt Nam thường giỏi các môn tự nhiên, nhất là Toán nên có học sinh chọn đến 4 tín chỉ về Toán (Mathematics General, Maths, Maths Extension 1 & 2) và 8 tín chỉ khác. Các tín chỉ toán gồm (Toán phổ thông: dành cho các thí sinh không có khiếu làm toán, khi đi thi họ được phép dùng máy tính; Toán 2 unit: dành cho các em khá hơn, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba, ứng dụng toán trong thực tế; Toán 3 unit: dành cho các em có trình độ toán trên trung bình, và chương trình học đi sâu vào lượng giác, đạo hàm, tích phân, v.v… Toán 4 unit: dành cho các em giỏi toán, chương trình học khá nặng như số phức ( complex number ), hình học không gian, tích phân và ứng dụng tích phân, v.v… Tuy nhiên, Anh văn là môn bắt buộc tối thiểu 2 tín chỉ. Môn học này là môn học về văn chương nên khá khó đối với du học sinh Việt nếu vốn tiếng Anh chưa tốt.
Trung bình, mỗi môn thi đều có khoảng 40 câu hỏi, từ dễ nhất đến khó nhất. Chẳng hạn như thi môn toán 2 units thí sinh có thể gặp những câu hỏi dễ như … cách tính phân số! Người ta lí giải rằng cách ra đề thi như thế công bằng hơn là tập trung vào 5, 6 câu khó như ở Việt Nam hay làm. Bài thi của mỗi thí sinh sẽ do 3 người chấm điểm một cách độc lập. Nếu có khác biệt (hiếm, nhưng có) thì phải có người đứng ra dàn xếp. Do đó, điểm từng môn của thí sinh có thể nói là chính xác và công bằng.
Tuy nhiên, điểm tổng số HSC không chỉ đơn thuần là điểm thi, mà là tổng số của 3 điểm: (A) Điểm thi HSC; (B) Điểm lúc theo học 2 năm cuối trung học, tức là điểm trong các kì test mỗi kì học trong năm; (C) Điểm trong kì thi thử. Ở Úc, trước khi thi HSC thật, thí sinh phải qua một kì thi thử (gọi là trial examination) mà theo đó thí sinh thi như thật, nhưng chỉ thi tại trường, với đề thi do một nhóm thầy cô độc lập ra đề. Ba điểm thi này được chiếm tỉ lệ khác nhau (Vd như: điểm A chiếm 50%, điểm B 25%, và điểm C 25%). Ba điểm này phải qua một mô hình phân tích thống kê để tính điểm tổng số. Điểm tổng số này rất phức tạp vì mô hình còn xem xét trường mà thí sinh xuất thân. Chẳng hạn như thí sinh có thể có điểm B tốt nhưng vì điểm trung bình của trường mà em theo học thấp thì hệ số sẽ bị giảm xuống thấp hơn so với thí sinh có điểm B tốt và điểm trung bình của trường cũng tốt. Tóm lại, điểm của thí sinh còn phải phân tích với điểm trung bình của trường mà họ theo học để đánh giá thực tài của thí sinh.
Tại Úc, các trường đại học sẽ dựa vào kết quả của kỳ thi này để nhận sinh viên vào học. Xong kì thi HSC, mỗi học sinh có một điểm tốt nghiệp từ 0 đến 100. Trường đại học căn cứ vào nhu cầu họ công bố điểm vào để tuyển học sinh. Chẳng hạn như muốn vào học ngành thương mại của trường UNSW thì thí sinh phải có ít nhất là 95 điểm, còn trường khác cũng ngành thương mại nhưng chỉ đòi hỏi 80 điểm. Quyết định ghi danh trường nào là quyết định của thí sinh. Thí sinh có quyền ghi danh 5 trường khác nhau, và trường nào tuyển thì họ thông báo.
Thời gian gần đây, ở Australia đã nổ ra nhiều cuộc tranh luận quanh chuyện cải cách chương trình giảng dạy. Để bắt kịp sự phát triển của xã hội cũng như thế giới, học sinh – sinh viên sẽ cần kiến thức sâu rộng và phát triển các kỹ năng mềm dựa trên nền tảng tri thức đó.
Lớp trẻ sẽ phải biết cách làm việc chăm chỉ một mình và cộng tác theo nhóm. Các em cũng cần biết tận dụng những sáng tạo mới nhất của công nghệ. Tôi nghĩ không chỉ học sinh hay sinh viên, về khía cạnh nào đó, các giáo viên giỏi nhất cũng không tránh khỏi chuyện bị ám ảnh về tương lai. Họ biết những nỗ lực tốt nhất của họ sẽ không chỉ được nhìn thấy qua các học sinh giỏi học tập ở trường học, mà còn qua cả cuộc sống của các em ở nhiều năm sau đó. Thách thức dành cho thầy cô đơn giản là sự công nhận rằng thế giới đang thay đổi nhanh chóng và vì thế, các trường cũng phải thay đổi.
Thay đổi để mang lại sự chuẩn bị tốt nhất cho tương lai các em, để các em vững vàng đối mặt với sự phức tạp hơn trong một thế giới đòi hỏi khắt khe hơn. Vì lý do này, ngành giáo dục Australia đã rất thiện chí khi tỏ ra sẵn sàng lắng nghe các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để cải thiện kết quả dạy và học. Mô hình giáo dục cũ tuy có những giá trị bất biến nhưng cũng cần linh hoạt theo nhu cầu xã hội. Môi trường làm việc mới là nơi học tập suốt đời. Và trường học là nơi thiết lập nền tảng cho hành trình học tập không ngừng nghỉ đó.
PGS Ngô Viết Liêm (Đại học New South Wales, Australia) vừa nhận danh hiệu tiến sĩ do trường Đại học Kinh tế TP HCM trao. Sự việc này đã được Học viện Marketing của Australia và New Zealand (ANZMAC) vừa thông báo đến cộng đồng học thuật.
PGS Ngô Viết Liêm là người gốc Việt, có gần 10 năm giảng dạy trong nước trước khi làm việc và định cư tại Australia hơn 15 năm qua. Ông hiện phụ trách điều phối nghiên cứu khoa học của khoa Marketing trường New South Wales; giảng dạy chương trình cử nhân và sau đại học về quản lý thương hiệu, tiếp thị kỹ thuật số (digital marketing), quảng cáo; đồng thời chủ trì nhiều dự án nghiên cứu quản trị thương hiệu, quản lý khách hàng, đổi mới mô hình kinh doanh và khởi nghiệp.
Với trường Đại học Kinh tế TPHCM, ông có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, nghiên cứu sinh Đại học Kinh tế TP HCM. Ông là người khởi xướng và triển khai nhiều dự án nghiên cứu cùng với các học giả của đại học này để công bố trên các tạp chí quốc tế.
Ông đã công bố 39 bài nghiên cứu trên các tạp chí về Marketing, quản lý và 54 bài báo tại các hội thảo khoa học. Ông tham gia hội đồng biên tập các tạp chí Industrial Marketing Management, Asia Pacific Journal of Marketing & Logistics và Journal of Asian Business and Economic Studies.
Ngoài ra, ông cũng tham gia vào hội đồng biên tập JABES – tạp chí trong ngành kinh tế đầu tiên của Việt Nam được xuất bản trên Emerald đang trong lộ trình gia nhập Scopus.
Ông là người thứ ba được Đại học Kinh tế TP HCM trao tặng danh hiệu tiến sĩ danh dự sau GS Neil Quigley (Đại học Victoria, New Zealand) và PGS Yi Chen Lan (Đại học Western Sydney, Australia).
Là một agent lớn, một đối tác quan trọng của trường Đại học La Trobe, MelLink tự hào chia sẻ với các bạn về kết quả xuất sắc mà La Trobe đã đạt được trong năm 2018 vừa qua. Đó là việc La Trobe gần đây đã nâng thứ hạng của mình trong bảng xếp hạng các trường đại học toàn cầu do Times Higher Education World công bố. Năm 2019, thứ hạng của La Trobe đã nâng lên 51 bậc đứng thứ 341 trên thế giới. Giáo sư John Dewar – Phó Hiệu trưởng và Chủ tịch trường vui mừng cho biết: “ Việc di chuyển vào top 350 của thế giới và được đánh giá rất cao bởi bảng xếp hạng Times Higher Education có uy tín đã khiến La Trobe duy trì được vị thế của mình trong 400 trường đại học hàng đầu trên thế giới. Kết này thật tuyệt vời đối với chúng tôi. Nó phản ánh bề rộng và cả những tác động của các nhà nghiên cứu đẳng cấp thế giới của chúng tôi và những trải nghiệm nổi bật mà chúng tôi cung cấp cho sinh viên thông qua các sáng kiến như chương trình Hướng nghiệp… La Trobe giúp sinh viên phát triển kỹ năng và khả năng mà nhà tuyển dụng cần. Chúng tôi cũng đang nỗ lực để phát triển các khóa học mới đáp ứng những thách thức của công nghệ số và công việc trong một thế giới đổi thay. Gần đây chúng tôi đã giới thiệu các chương trình mới bao gồm Master of Business Analytics và chúng tôi rất vui vì La Trobe đã được đưa vào
bảng xếp hạng toàn cầu của QS 2019 dành cho các nhà cung cấp khóa học phân tích kinh doanh sau đại học tốt nhất. Chương trình Master of Business Analytics của chúng tôi được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp đối với những sinh viên tốt nghiệp có kỹ năng phân tích dữ liệu lớn và chúng tôi rất vui vì QS đã xếp hạng La Trobe là trường đứng thứ hai ở Úc trong lĩnh vực phân tích kinh doanh và nằm trong danh sách 75 trường đại học tốt nhất”.
Đại học La Trobe (La Trobe University) là trường đại học bách khoa đa ngành lớn thứ 3 được thành lập tại bang Victoria. Trường có 7 cơ sở đào tạo tại Bang Victoria với hơn 33.000 sinh viên và khoảng 3.000 nhân viên, được công nhận là một trong những trường đại học tốt nhất của Úc. Trường có những cựu du hoc sinh suất sắc hiên đang công tác trong những ngành có ảnh hưởng cao đến xã hội và giải quyết những thách thức lớn toàn cầu như sự khan hiếm tài nguyên, biến đổi khí hậu, và bình đẳng xã hội.Đại học La Trobe xếp hạng là trường đại học tốt nhất của Úc dành cho nghiên cứu vi sinh học, hóa sinh và sinh học tế bào, và khoa học thú y (Excellence in Research for Australia rankings). Đại học La Trobe nổi tiếng với mạng lưới cựu sinh viên đang đảm nhận những vị trí quản lý cao cấp như tiến sĩ David Morgan – Giám đốc ngân hàng Wespac Bank, tiến sĩ Geofff Raby – Đại sứ Australia tại Trung Quốc.
Du học sinh Việt tại Úc đạt IELTS 9.0 – Nguyễn Việt Hùng học tại Đại học New South Wales, đã nghiên cứu phát hiện ra 8 loài vi khuẩn hoàn toàn mới. Hùng là người Việt Nam duy nhất vinh dự được mời phát biểu tại Hội nghị khoa học vi sinh hàng đầu thế giới ISME17 tổ chức tại Đức.
Việc phát hiện ra 8 loài vi khuẩn mới và môi trường thích nghi của chúng đã có ý nghĩa đặc biệt khi ứng dụng vào thực tế để ngăn chặn dịch bệnh trong nuôi trồng nông, thủy sản. Không chỉ phát hiện, Hùng còn tìm ra phương pháp hiểu cặn kẽ đặc tính để biết chúng có thể sống tốt nhất trong môi trường nào. Khi cần có thể cấy vi khuẩn để phát triển những yếu tố có lợi cho cây trồng, vật nuôi.
Như ở đồng bằng sông Cửu Long, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị dịch bệnh, các loài thủy sản nhóm giáp xác bị chết hàng loạt. Nguyên nhân ban đầu là do sự thay đổi môi trường, phù sa nên vi khuẩn hữu ích trong môi trường đó mất đi kéo theo sự suy thoái chức năng sinh thái. Những chất như hydrogen sulfate hay ammonia có thể tăng lên mạnh, giết hết thủy sản đang nuôi. “Khi đó có thể ứng dụng nghiên cứu để cấy ghép vi khuẩn có lợi, sống được trong môi trường này để tái tạo chức năng sinh thái cần thiết cho khu nuôi trồng”. Nếu có dịch bệnh do vi khuẩn gây ra, áp dụng công nghệ này có thể nhanh chóng tìm ra loài vi khuẩn nào gây bệnh. Công nghệ cũng cho phép phát hiện một lượng vi khuẩn lớn trong một lúc, với thời gian nhanh thay vì chờ nuôi trồng trong phòng thí nghiệm rồi xét nghiệm ADN của từng loài.
Phương pháp Hùng đã nghiên cứu cho phép tìm ra một môi trường riêng có tất cả ADN của các loài vi khuẩn. Có những con vi khuẩn lạ không thể tìm ra nhưng bằng công nghệ này cũng có thể phát hiện được. Với phát hiện mới, nghiên cứu của Hùng được lựa chọn để báo cáo tại Thượng Hải (Trung Quốc) vào cuối tháng 10 này. Tại hội nghị ở Thượng Hải, Hùng cho biết sẽ công bố về những nghiên cứu liên quan đến con bọt biển. Đây là một ngành vi sinh vật (khoảng 50 loài vi sinh vật mới) có ảnh hưởng tới con bọt biển được nghiên cứu. Việc tìm ra mối liên kết giữa chúng với cơ thể động vật ký sinh tiếp tục chứng minh công nghệ mà Hùng tạo ra sẽ có thể chủ động trong việc cấy ghép vi khuẩn có lợi cho môi trường.
Hoàn thành dự án nghiên cứu trong lĩnh vực gene, kiểm tra việc chuyển gene di truyền ngang của các yếu tố kháng kháng sinh trong các vi khuẩn Staphylococcus kháng methicillin, Hùng tốt nghiệp Đại học Queensland. Cũng từ đây Hùng nhận ra tiếng gọi sâu thẳm và đam mê thuộc về lĩnh vực sinh học. Chuyển sang Đại học Macquarie ở Sydney, Hùng đã thử thách bản thân với việc nghiên cứu phản ứng của hàu ngọc trai đối với bệnh tật. Lúc này Hùng nhận được học bổng tiến sĩ của ba trường danh tiếng trên đất nước Australia trong đó có Melbourne. Hùng từ chối cả ba trường này và chọn Đại học New South Wales tại thành phố Sydney để bắt đầu chương trình tiến sĩ và theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học. Một ngày Hùng dành tới 9 tiếng cho việc nghiên cứu nhưng chàng trai trẻ cũng là gương mặt nổi bật trong cộng đồng sinh viên Việt Nam tại Australia với các hoạt động xã hội và cộng đồng. Hùng kinh qua các vị trí Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam tại Đại học Queensland; thủ lĩnh đội bóng chuyền tại Đại học Queensland; cố vấn Hội sinh viên Việt Nam tại bang New South Wales Australia; Chủ tịch hội du học sinh Việt Nam tại trường đại học New South Wales. “Đây là cách em cân bằng giữa nghiên cứu, học tập và các hoạt động xã hội để thấy cuộc sống ý nghĩa hơn”, Hùng nói. Thời gian tới nhà nghiên cứu trẻ muốn tìm ra các mối liên kết của vi khuẩn trên cơ thể chúng ký sinh là con người. Hùng muốn tìm những loài vi khuẩn để biết loài nào tốt, loài nào cần thiết để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe con người. “Trên cơ thể mỗi người sẽ có bộ vi khuẩn khác nhau. Nếu hiểu rõ có thể tái tạo nhóm vi khuẩn có lợi cho sức khỏe của họ”, Hùng nói và cho biết muốn được thiết lập nhóm nghiên cứu trẻ cùng lĩnh vực để có thể chia sẻ ý tưởng mới, hỗ trợ nhau, kết hợp thế mạnh của mỗi nhà nghiên cứu sẽ có kết quả lớn hơn cho xã hội.
“Với mình, đi du học là một quyết định lớn đúng đắn. Nước Úc đã mang đến cho mình những trải nghiệm tuyệt vời nhưng quan trọng nhất là bản thân mình trưởng thành hơn mỗi ngày và sống có trách nhiệm hơn”.
Đức và cộng đồng du học sinh Việt Nam tại Úc trong một chương trình âm nhạc
Sau khi hoàn thành THPT tại Việt Nam, tháng 10/2016, Minh Đức lên đường sang Úc theo học ngành Công nghệ thông tin tại Đại học Deakin như dự định từ trước đó. 2 năm học tập và sinh sống tại xứ sở Kangaroo đã cho anh chàng du học sinh này những trải nghiệm tuyệt vời nhưng cùng với đó là không ít khó khăn mà nhìn từ bên ngoài mọi người khó có thể hiểu được hết.
“Nước Úc thực sự vô cùng yên bình và chất lượng cuộc sống khiến mình rất hài lòng”
Khi được hỏi về điều gì mà Đức ấn tượng nhất về nước Úc và về quãng thời gian học tập tại đây, Đức ngay lập tức trả lời “sự yên bình và chất lượng cuộc sống”.
Nước Úc mang đến cho Đức trải nghiệm về sự yên bình đến khó tả dù đang sống giữa lòng thành phố Melbourne. Dù nhịp sống đô thị vẫn diễn ra tấp nập những hoàn toàn không phải khung cảnh xô bồ, ồn ào, chen lấn. Sự yên bình đến từ không khí dễ chịu, không gian thoáng đãng và nhiều cây xanh khắp thành phố. Rất nhiều người lựa chọn đi bộ nên vẻ xứ “Mèo buồn” cũng có vẻ chậm lại.
“Mình đã rất bất ngờ vì nơi đây an toàn hơn mong đợi. Khi đi trên đường phố, hầu như không cần phải lo lắng hay đề phòng việc sẽ bị giật đồ. Nếu lỡ về khuya, chuyện đi một mình trên đường cũng không hề đáng ngại. Mình rất ít khi bắt gặp tai nạn hay va chạm giao thông, vì mọi người ở thành phố này lựa chọn phương tiện công cộng rất nhiều”.
“Chất lượng cuộc sống ở đây cũng là một trong nhưng lí do lớn nhất khiến mình yêu nước Úc. Thực phẩm tươi ngon, an toàn, thời tiết hợp lòng người, các dịch vụ xã hội tương đối tốt mà chi phí sinh hoạt không quá đắt đỏ. Mình đã có 2 năm đầu tiên khá hài lòng tại đây”.
Thế nhưng, một điều mà Đức cảm thấy chưa thực sự hài lòng chính là quan hệ giao tiếp giữa mọi người. Cậu bạn băn khoăn liệu có phải mọi người quá bận rộn hay đơn giản không muốn giao tiếp quá nhiều với những người sống xung quanh hay không mà hầu như chẳng bao giờ Đức gặp những người hàng xóm, và chẳng biết tên hay bất cứ điều gì vệ họ.
Tự lập vất vả hơn nhiều những gì mọi người vẫn nghĩ
Mọi người thường cho rằng du học sinh có thể đi làm thêm là đủ để trang trải cho cuộc sống. Thế nhưng Đức cho biết, tự lập chẳng bao giờ dễ dàng, mà muốn tự lập ở một nơi xa nhà như vậy càng vất vả và nhiều khó khăn hơn.
“Chương trình học không bao giờ là nhẹ nhàng cả. Học trên lớp không thể nào đủ, bạn cần dành rất nhiều thời gian cho nó ở nhà. Nhưng bạn cũng muốn đi làm thêm để giúp đỡ bố mẹ giảm bớt áp lực tài chính. Cân bằng thời gian học tập và làm việc thực sự là một bài toán khó” – Đức chia sẻ.
“Đi làm thêm về thường khá mệt nên rất dễ bỏ bê việc học để nghỉ ngơi bù sức cho buổi làm việc vừa mới xong. Mình phải thừa nhận có những lúc mình hoàn toàn không có thời gian để học tập nghiêm túc chỉ vì đi làm thêm”.
“Mà đi làm thêm cũng có vô số những chuyện không như mong đợi. Gặp một quản lý khó tính, suốt ngày phải nghe quát mắng vô lý khiến mọi người đều cảm thấy ức chế nhưng không phải bất cứ những lúc như vậy đều có thể bỏ việc ngay. Tìm kiếm một công việc khác có một môi trường tốt, thu nhập phù hợp ở nước ngoài không đơn giản như ở Việt Nam. Đặc biệt, vì là du học sinh, người tuyển dụng cũng sẽ khắt khe hơn trong việc có chọn bạn hay không”.
Nhớ nhà là cảm giác tồi tệ nhất
Cảm giác nhớ nhà có lẽ ai cũng hiểu và ai cũng đã từng trải qua nhưng khi ở một nơi xa nhà ngàn cây số thì cảm giác ấy rất khó để có thể diễn tả.
“Mình đã chuẩn bị tâm lý trước là sẽ rất nhớ nhà, nhưng không ngờ những gì thực tế phải trải qua thì tồi tệ hơn nhiều. Những ngày đầu tiên, chỉ muốn chạy ngay về với bố mẹ nhưng không thể nào làm được. Dần dần, nhịp sống và học tập ổn định hơn, mình cũng vượt qua được giai đoạn nhớ nhà nhất, nhưng mỗi dịp sinh nhật bố mẹ, những ngày lễ truyền thống chỉ được nhìn cả nhà quây quần bên mâm cơm qua màn hình máy tính, bạn bè thì liên tục gửi ảnh cùng nhau đi chơi, gặp gỡ, không thể nào mà không chạnh lòng”.
Thế nhưng, có một may mắn mà Đức cho rằng tuyệt vời hơn cả chính là kỳ nghỉ hè kéo dài khoảng 2-3 tuần, trùng đúng dịp Tết Nguyên Đán tại Việt Nam nên bạn có thể trở về nhà và đón năm mới cùng gia đình. Sau một năm xa nhà, cái Tết được trở về càng thêm quý giá và ý nghĩa.
Bên cạnh đó, Đức cũng có một cộng đồng những người bạn là du học sinh Việt Nam tại đây làm điểm tựa tinh thần. Những người bạn có cùng ngôn ngữ thường xuyên tổ chức các chương trình tập thể để tăng cường tình đoàn kết và vơi bớt nỗi nhớ nhà. Như Đức chia sẻ, đó cũng chính là những người bạn thân thiết nhất luôn sẵn sàng giúp đỡ bất cứ khi nào gặp khó khăn.
Hiện còn 1,5 năm nữa Đức sẽ kết thúc chương trình học. Cậu bạn du học sinh Việt Nam có chia sẻ mong muốn tìm kiếm cơ hội ở lại làm việc từ 1-2 năm để nâng cao kinh nghiệm trước khi về nước lập nghiệp.
“Với mình, đi du học là một quyết định lớn đúng đắn. Nước Úc đã mang đến cho mình những trải nghiệm tuyệt vời nhưng quan trọng nhất là bản thân mình trưởng thành hơn mỗi ngày, sống có trách nhiệm hơn. Ngày trước, mình thậm chí còn không tự nấu được một bữa cơm nhưng bây giờ có thể tự tin làm được rất nhiều việc hơn thế. Mình rất mong đợi đến ngày hoàn thành những kế hoạch của bản thân và trở về Việt Nam với một tư duy khác và một bản lĩnh khác”.
Chúng ta đang sinh sống ở thời đại của sự dịch chuyển, số người nhập cư và sống ở quốc gia khác nhiều hơn bao giờ hết. Theo số liệu đến từ Liên Hợp Quốc, số người lưu trú tại một quốc gia khác nơi mà họ sinh ra đã tăng từ 90 triệu người lên 244 triệu người (tính đến năm 2015). Trong một cuộc thăm dò vào năm ngoái, có đến 14 % số người trưởng thành trên thế giới – khoảng 700 triệu người – mong muốn tạo dựng cuộc sống tại một quốc gia khác nếu có cơ hội. Những con số này đã phần nào chứng minh nhập cư là xu hướng và cũng là thách thức lớn của thời đại.
Theo báo cáo World Happiness Report – báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu dựa trên cuộc thăm dò Gallup World Poll, nhằm đo lường mức độ hạnh phúc của người nhập cư và người dân bản địa, kết quả là hầu hết các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới đều là những đất nước có tỉ lệ nhập cư cao. 10 quốc gia hàng đầu trên bảng xếp hạng hạnh phúc toàn cầu có tỷ lệ dân số sinh ra ở nước ngoài là 17,2%, gấp đôi mức trung bình trên thế giới. Trong đó, Úc nằm trong top 10, trên tổng số 156 quốc gia, trở thành một trong những đất nước có số người nhập cư hạnh phúc nhất thế giới.
Người nhập cư thường có xu hướng trở nên hạnh phúc hơn khi đặt chân đến một quốc gia khác, chất lượng cuộc sống của họ được báo cáo tăng trung bình 9% sau khi nhập cư. Tất nhiên, việc họ hạnh phúc hơn còn liên quan đến các yếu tố cá nhân hoặc các nhân tố khách quan. Ví dụ, một số người rời Vương quốc Anh đến New Zealand trở nên vui vẻ do yếu tố thời tiết. Mức độ hạnh phúc của người nhập cư còn thể hiện được mức độ hạnh phúc ở đất nước sở tại – theo báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu.
Thậm chí, mức độ tích cực trong thái độ sống không chỉ tác động đến bản thân người nhập cư mà còn tác động đến các thành viên trong gia đình của họ tại quê nhà. Những người này đánh giá rằng cuộc sống của họ trở nên tích cực hơn khi có người thân nhập cư ở quốc gia khác. Một trong những lý do có thể giải thích cho điều này là số tiền mà họ nhận được khi các thành viên trong gia đình chuyển đến đất nước khác. Trong năm 2015, lượng kiều hối trên toàn cầu đạt khoảng 500 tỷ đô la Mỹ (647 tỷ đô la Úc).
Vậy, xét về phía những người dân địa phương thì như thế nào? Những người bản địa vốn sinh ra và lớn lên ở Úc sẽ có cái nhìn ra sao về người nhập cư?
Đây dường như là câu hỏi “khó trả lời nhất” về mặt xã hội học. Trên thực tế, không có tác động tiêu cực hay tích cực gì vào mức độ hạnh phúc của người dân địa phương, dựa trên mức độ nhập cư của quốc gia đó. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng thái độ khoan dung của người dân ở nước sở tại sẽ mang lại lợi ích cho cả người nhập cư và người dân bản địa.
Cuộc khảo sát Gallup World Poll gần đây đã tiến hành phát triển Chỉ số chấp nhận tình trạng nhập cư để đo lường phản ứng của công chúng đối với những người mới đến nhập cư. Và không ngoài dự đoán, Úc lại trở thành quốc gia hàng đầu, đứng thứ 7 trên toàn thế giới (trên 140 quốc gia tiến hành khảo sát) trong bảng xếp hạng này. Những người trẻ và có học thức tại Úc có xu hướng tích cực đối với vấn đề nhập cư nhất.
Chỉ số cũng cho thấy rằng ở các nước có mức độ chào đón người nhập cư nhất, cả người mới nhập cư và người nhập cư lâu năm đều lạc quan hơn về tương lai của họ so với những nước ít chào đón người nhập cư hơn.
Đây cũng là năm đầu tiên Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu xếp hạng các quốc gia theo chỉ số hạnh phúc đến từ riêng người nhập cư mà không trên toàn bộ dân số.
Thời gian trung bình xét duyệt visa Úc sẽ được cập nhật hàng tháng, cung cấp cho bạn khung thời gian chỉ định để xử lý đơn xin visa. Thời gian xử lý có sẵn cho phần lớn các loại thị thực và các hồ sơ xin quốc tịch, nhưng sẽ loại trừ một số lớp con như những diện loại visa đóng cửa cho người mới tham gia, bị giới hạn và xếp hàng hoặc có số lượng đơn đăng ký thấp. Hai thời gian xử lý được hiển thị trong các ngày theo lịch, cho biết thời gian xử lý là bao lâu để hoàn thành 75 và 90% đơn đăng ký được gửi trên toàn cầu.
Thời gian xử lý bị ảnh hưởng mỗi tháng bởi những thay đổi về khối lượng hồ sơ, các thời đỉnh điểm theo mùa, các trường hợp phức tạp và các hồ sơ không đầy đủ. Thời gian xử lý bao gồm các ứng dụng được nộp trực tuyến và bằng giấy. Nếu có, bạn nên nộp đơn trực tuyến vì nó giúp đơn giản hóa việc sắp xếp xử lý.
MelLink xin cập nhật thời gian xét duyệt visa Úc tháng 10 do Bộ di trú Úc công bố mới nhất:
Cập nhật ngày 17/10/2018:
Visa Type
Stream (if available)
75% of applications processed in
90% of applications processed in
Visitor visas
651 eVisitor
1 day
1 day
600 Visitor
Tourist1
17 days
31 days
600 Visitor
Business Visitor
10 days
19 days
600 Visitor
Frequent Traveller
13 days
15 days
600 Visitor
Sponsored Family
30 days
49 days
600 Visitor
Approved Destination Status
1 day
3 days
771 Transit
8 days
13 days
1Processing times for the Tourist stream range from 48 hours to more than 20 days depending on factors such as peak processing periods in a particular location.
Work and skilled visas
124 Distinguished Talent
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
132 Business Talent
Significant Business History
19 months
Unavailable due to low volume of applications.
132 Business Talent
Venture Capital Entrepreneur
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
186 Employer Nomination Scheme
Agreement
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
186 Employer Nomination Scheme
Direct Entry
15 months
19 months
186 Employer Nomination Scheme
Temporary Residence Transition
15 months
17 months
187 Regional Sponsored Migration Scheme
Temporary Residence Transition
15 months
16 months
187 Regional Sponsored Migration Scheme
Direct Entry
22 months
24 months
187 Regional Sponsored Migration Scheme
Agreement
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
188 Business Innovation and Investment (Provisional)
Significant Investor
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
188 Business Innovation and Investment (Provisional)
Investor
19 months
23 months
188 Business Innovation and Investment (Provisional)
Business Innovation
18 months
20 months
188 Business Innovation and Investment (Provisional)
Premium Investor
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
188 Business Innovation and Investment (Provisional)
Entrepreneur
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
189 Skilled – Independent
Points-tested
8 months
11 months
189 Skilled – Independent
New Zealand
14 months
14 months
190 Skilled – Nominated
7 months
8 months
400 Temporary Work (Short Stay Activity)
16 days
27 days
403 Temporary Work (International Relations)
Seasonal Worker Programme
3 days
4 days
403 Temporary Work (International Relations)
Government Agreement
32 days
46 days
403 Temporary Work (International Relations)
Foreign Government Agency
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
403 Temporary Work (International Relations)
Domestic Worker (Diplomatic or Consular)
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
403 Temporary Work (International Relations)
Privileges and Immunities
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
405 Investor Retirement
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
407 Training
55 days
75 days
408 Temporary Activity
Australian Government Endorsed Events
Unavailable
Unavailable
408 Temporary Activity
Domestic Work for Executives
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
408 Temporary Activity
Exchange Arrangements
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
408 Temporary Activity
Superyacht Crew
4 days
7 days
408 Temporary Activity
Special Programmes
21 days
56 days
408 Temporary Activity
Religious Work
44 days
84 days
408 Temporary Activity
Research Activities
35 days
44 days
408 Temporary Activity
Invited for Other Social and Cultural Activity
13 days
21 days
408 Temporary Activity
Sporting Activities
24 days
32 days
408 Temporary Activity
Entertainment Activities
12 days
27 days
417 Working Holiday
18 days
29 days
457 Temporary Work (Skilled)
13 months
15 months
462 Work and Holiday2
34 days
49 days
476 Skilled – Recognised Graduate
5 months
6 months
482 Temporary Skill Shortage
Short-Term
43 days
70 days
482 Temporary Skill Shortage
Medium-Term
38 days
66 days
482 Temporary Skill Shortage
Labour Agreement
35 days
52 days
482 Temporary Skill Shortage
Nomination
37 days
41 days
482 Temporary Skill Shortage
Sponsorship
39 days
43 days
485 Temporary Graduate
Graduate Work
4 months
4 months
485 Temporary Graduate
Post-Study Work
40 days
47 days
489 Skilled – Regional (Provisional)
State/Territory Nominated Visa Classes – GSM
8 months
11 months
489 Skilled – Regional (Provisional)
Skilled Regional – GSM
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
858 Distinguished Talent
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
887 Skilled – Regional
12 months
15 months
888 Business Innovation and Investment (Permanent)
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
890 Business Owner
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
891 Investor
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
892 State/Territory Sponsored Business Owner
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
893 State/Territory Sponsored Business Investor
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
2Due to high demand for subclass 462 Work and Holiday visas in the period of July – September, global processing times during these months are expected to increase and may exceed 30 days.
Student visas
500 Student
Foreign Affairs or Defence Sector
16 days
28 days
500 Student
Postgraduate Research Sector
43 days
66 days
500 Student
Non-Award Sector
14 days
36 days
500 Student
Schools Sector
32 days
53 days
500 Student
Independent ELICOS Sector
28 days
42 days
500 Student
Vocational Education and Training Sector
35 days
55 days
500 Student
Higher Education Sector
30 days
39 days
590 Student Guardian
51 days
4 months
Family and partner visas
100 Partner4
17 months
25 months
101 Child
11 months
19 months
102 Adoption
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
117 Orphan Relative
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
143 Contributory Parent (Migrant)
43 months
48 months
173 Contributory Parent (Temporary)
43 months
48 months
300 Prospective Marriage
13 months
16 months
309 Partner (Provisional)
13 months
17 months
445 Dependent Child
10 months
13 months
461 New Zealand Citizen Family Relationship (Temporary)
18 months
20 months
801 Partner4
18 months
24 months
802 Child
10 months
15 months
820 Partner
21 months
26 months
837 Orphan Relative
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
864 Contributory Aged-Parent (Residence)
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
884 Contributory Aged-Parent (Temporary)
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
4Processing time for subclass 801 Partner (permanent) visa and 100 Partner (permanent) visa is from date of eligibility (2 years after the 820/801 or 309/100 application is lodged) to finalisation.
Other visas
602 Medical Treatment
27 days
47 days
151 Former Resident
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
155 Five Year Resident Return5
67 days
5 months
157 Three Month Resident Return
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
159 Provisional Resident Return
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
808 Confirmatory (Residence)
Unavailable due to low volume of applications.
Unavailable due to low volume of applications.
988 Maritime Crew Visa
5 days
16 days
5Applications that do not meet the residence requirement will take longer to finalise than the published processing times advertised above. Processing timeframes for these applications can be up to 12 weeks.
Citizenship application processing times
Last updated: 17 October 2018 (for month ending 30 September 2018)
Australian Citizenship application type
75% of applications processed in
90% of applications processed in
Conferral (lodgement to ceremony**)
17 months
19 months
Descent (lodgement to decision)
2 months
4 months
Evidence (lodgement to decision)
37 days
60 days
**A small proportion of applicants for Australian citizenship by conferral are not required to attend a ceremony. For Descent and Evidence applications, allow an additional 10 days for printing and postage of your certificate. If you applied from outside Australia, postage will take longer.
Theo đó thông tin này sẽ vui cho những ai đang sử dụng và muốn xin quốc tịch Úc. Nhất là khi Chính phủ Liên bang công bố hồi tháng 8 về việc hiện có gần 189,000 người đang chờ được xử lý đơn xin nhập Quốc tịch của họ. Từ tháng 1/2018 chi phí để có được một sổ thông hành Úc đã tăng từ $277 lên $282. Sổ thông hành Úc hiện đang cấp cho người sở hữu quyền được đi đến 183 quốc gia mà không phải trả phí hoặc xin thị thực trước. Chúng ta đều biết rằng, sổ thông hành là một trong những công cụ hữu ích nhất. Trong số 199 hộ chiếu và 227 quốc gia được xem xét trong chi mục, chỉ có 21 quốc gia cung cấp cho người dân sổ thông hành đến nhiều nơi mà không cần phải trả phí xin thị thực. Vì vậy, khi mọi người có cuốn sổ thông hành Úc, thì bạn có đến đâu nó cũng được xem như một loại giấy tờ rất đáng tin cậy. Yếu tố làm cho hộ chiếu Úc quyền lực chính là các tính năng bảo mật phức tạp được thiết kế và củng cố thêm trong năm 2014.
Theo tiến sỹ David Beirman, một giảng viên cao cấp về du lịch tại đại học công nghệ Sydney, các tính năng hiện nay cực kỳ phức tạp. Ông cho hay, chính phủ Úc – đặc biệt, trong loạt sổ thông hành hiện tại – có lẽ được gắn vào những thứ an ninh trong đó khiến nó rất khó để sao chép. Do đó việc có một cuốn sổ thông hành Úc sẽ giúp ích rất nhiều. Cụ thể khi đi đến đâu nó cũng được xem như một loại giấy tờ rất đáng tin cậy.
Kết quả xếp hạng dựa trên dữ liệu từ Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), nơi có cơ sở dữ liệu thông tin du lịch chuyên sâu và lớn nhất thế giới.
Ukraine (44th) và Georgia (53rd) là hai nước có tốc độ gia tăng thứ hạng nhanh nhất, tăng lần lượt 15 và 14 bậc, theo sau quá trình tự do hoá thị thực với EU. Pakistan, Syria, Iraq, và Afghanistan vẫn “đội sổ” trong năm thứ hai liên tiếp – công dân những nước này chỉ có thể nhập cảnh 30 quốc gia hoặc ít hơn mà không cần thị thực.
Tiến sĩ Christian H. Kälin, chủ tịch Henley & Partners, cho rằng nhu cầu du lịch mà không cần đến visa đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.
“Trên bình diện kinh tế, những cá nhân muốn vượt qua những khó khăn do chính quốc gia mình gây ra và tiếp cận với các cơ hội kinh doanh, tài chính, nghề nghiệp và cơ hội việc làm trên phạm vi toàn cầu,” ông nói.
“Chỉ số Hộ chiếu Henley cho người ta biết vị trí của họ trên bản đồ thế giới, và cho thấy sức mạnh của quyển sổ thông hành trong tay họ so với những nước khác.